Đằng sau Bức màn sắt

Tháng 11 14, 2012
Louis Menand
Phạm Vũ Lửa Hạ dịch
KHI Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, ngày mà W. H. Auden[i] dùng đặt tựa cho bài thơ nổi tiếng của mình – “Tôi và công chúng đều biết / Điều mọi học sinh đã thuộc lòng, / Những ai bị gieo oán lên đầu / Sẽ lấy oán đền oán” – Ba Lan được Pháp và Anh cam kết giúp đỡ nếu nền độc lập của Ba Lan bị đe dọa. Ở Warszawa, trong tuần đầu tháng 9, nhiều đám đông háo hức tụ tập bên ngoài Đại sứ quán Pháp và Anh. Họ hy vọng Berlin sẽ bị đánh bom và các lực lượng Anh và Pháp sẽ tấn công Đức từ phía tây.
Nhưng người Anh và người Pháp không làm như dân Ba Lan mong đợi, và cuộc chiến đó chẳng kéo dài bao lâu. Ngày 27 tháng 9, Warszawa đầu hàng người Đức. Trong khi đó, theo một thỏa thuận giữa Stalin và Hitler, Ba Lan bị Hồng Quân xâm lược từ phía đông. Chiến dịch đó diễn ra trong vòng chưa tới một tháng. Đến tháng 10, Ba Lan nằm trong tay hai kẻ thù xưa của mình.
Trong năm năm tiếp theo, những kẻ thù đó gắng hết sức để hủy diệt đất nước này. Rồi trong bốn mươi lăm năm sau đó, Ba Lan bị nhốt trong cái chuồng toàn trị mà chìa khóa cất ở Moskva. Không ai đến cứu Ba Lan năm 1939, cũng chẳng ai giải cứu họ sau năm 1945. Rốt cuộc, Ba Lan phải tự cứu mình.
Câu chuyện Ba Lan là trọng tâm của cuốn sách Bức màn sắt: Cuộc thâu tóm Đông Âu (Iron Curtain: The Crushing of Eastern Europe, nhà xuất bản Doubleday) xuất sắc của Anne Applebaum. Cuốn sách này tái hiện một thế giới mà phần lớn người phương Tây chưa từng thấy, còn nhiều người đã sống và chịu đựng trong thế giới đó lại muốn quên đi.
Tuy là một trong những vùng nghèo khó nhất ở Trung Âu, nhưng miền đông Ba Lan vẫn khá hơn Liên Xô. Ngay sau khi giành quyền kiểm soát vùng này vào năm 1939, Liên Xô cướp bóc bất cứ thứ gì họ có thể chạm đến. Các nhân viên của Ủy ban Nhân dân về Nội vụ (còn gọi là N.K.V.D., tiền thân của cơ quan mật vụ K.G.B.) tiến hành một chương trình tiêu diệt nhắm vào thành phần ưu tú của Ba Lan.
Trong vụ khét tiếng nhất, gần mười lăm ngàn sĩ quan Ba Lan, phần lớn trong số đó là chuyên viên trong lực lượng dự bị, bị bắt và trục xuất. Hơn bốn ngàn người bị bắn và chôn trong một khu rừng bên ngoài Katyn, ở miền tây Nga. Số còn lại bị đưa đến những trại đặc biệt. Hầu hết bặt vô âm tín; chỉ còn chưa đến năm trăm người về sau còn tin tức. Tổng cộng có 1,2 triệu người Ba Lan bị trục xuất sang Liên Xô từ nửa phần đất Ba Lan với dân số 13 triệu người thuộc quyền kiểm soát của Liên Xô. Một nửa trong số đó chết trong trại giam.
Ở phía tây, Hitler xúc tiến các kế hoạch Đức hóa đất nước này bằng cách loại trừ người Do Thái, tống khứ dân Slavơ, và cho người gốc Đức (Volksdeutsche) định cư ở vùng đất này. Tất cả những trại giết người chủ yếu của Đức Quốc xã đều nằm ở vùng đất Ba Lan bị thôn tính hay bị Đức chiếm đóng. Trong số ước tính 5,7 triệu người Do Thái Châu Âu bị giết trong thời kỳ tàn sát diệt chủng Holocaust, khoảng ba triệu người là ở Ba Lan. Tuy người Anh và người Mỹ có biết đến những trại diệt chủng này, họ không chịu ném bom xuống các tuyến đường sắt dùng để vận chuyển các nạn nhân.
Tháng 6 năm 1941, Đức xâm lược Liên Xô, khiến Stalin bị bất ngờ. Đó là khởi đầu của cuộc chiến mà người Nga gọi là Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, khiến Ba Lan và những nước Đông Âu khác bị kẹt giữa một cuộc chiến mà Hitler đã hoạch định là Vernichtungskrieg – một cuộc chiến tranh hủy diệt, chiến tranh không có quy tắc, chiến tranh toàn diện.
Sau khi suýt mất Moskva, Hồng Quân xoay chuyển tình thế và đẩy lùi người Đức qua những vùng đất họ đã chinh phục: Hungary, Romania, Tiệp Khắc, Bulgaria, và Ba Lan, như vậy những nước này bị xâm lăng hai lần trong vòng năm năm. Khi “giải phóng” các vùng đất này, Hồng Quân cướp bóc, hoặc tháo dỡ rồi chuyển về Liên Xô gần như tất cả những gì có giá trị, từ đồng hồ đeo tay đến các nhà máy thép. N.K.V.D. thu dọn bằng cách trục xuất hay xử tử “các phần tử chống Liên Xô” – tức là những người thuộc các nhóm du kích và chính đảng dân tộc chủ nghĩa đã may mắn thoát được những chính sách tận diệt tương tự của các Einsatzgruppen (đội chuyên trách tàn sát của S.S.).
Khi tiến đến Ba Lan vào mùa hè năm 1944, Hồng Quân đợi ở bờ sông Vistula, ngay bên ngoài Warszawa, trong khi S.S., dưới sự chỉ đạo của Heinrich Himmler, giết mười lăm ngàn quân du kích Ba Lan trước đó đã tiến hành một cuộc nổi dậy có vũ trang, và hơn hai trăm ngàn dân thường. Vào lúc kết thúc trận đánh này, hơn nửa triệu người Ba Lan bị đưa vào trại, và số còn lại bị đưa sang làm lao động nô lệ ở Đức. Theo lệnh của Hitler, thành phố bị san bằng. Tháng 1 năm 1945, khi Hồng Quân cuối cùng tiến vào Warszawa, đường phố tràn ngập xác chết. Chẳng còn ai sống sót.
Ngoại trừ Bulgaria, vốn có các quan hệ văn hóa với Nga, binh lính Liên Xô không chỉ cướp bóc mà còn cưỡng hiếp, gần như có hệ thống, ở các nước họ đi qua. Chỉ riêng ở Đông Đức, người ta tin rằng có đến hai triệu phụ nữ đã bị quân Liên Xô cưỡng hiếp. Nhưng, ngoài việc trách cứ Stalin không chịu giúp đỡ người Ba Lan ở Warszawa, Anh và Mỹ chẳng làm gì để chấm dứt tình trạng cướp phá Đông Âu.
Trước khi chiến tranh ở Châu Âu kết thúc vào tháng 5 năm 1945, Liên Xô đã bắt đầu thiết lập “các nền dân chủ nhân dân” ở các nước Đông Âu. Khi Winston Churchill đọc bài diễn văn “Bức màn sắt” vào tháng 3 năm 1946,[ii] rõ ràng là Stalin không có ý định rút lui khỏi Đông Âu, hay cho phép các chế độ không thân thiện với Liên Xô được phép tự dựng nên ở đó. Một năm sau, Tổng thống Mỹ Truman đọc bài diễn văn tuyên bố Chiến tranh Lạnh. Phát biểu trước một phiên họp chung của lưỡng viện Quốc hội, ông nói rằng trong một thế giới chia rẽ giữa các nhà nước dân chủ và các nhà nước toàn trị, chính sách của Mỹ là “ủng hộ những dân tộc tự do đang chống lại âm mưu chinh phục của những nhóm thiểu số có vũ trang hay của những áp lực bên ngoài”.
Lời cảnh báo này chẳng có tác động gì đến những nước Đông Âu. Trong vòng sáu năm tiếp theo, dùng những thủ đoạn hăm dọa, cầm tù, tử hình, ám sát, gian lận bầu cử, và những phiên tòa dàn dựng nặng phần trình diễn, Liên Xô đã loại bỏ mọi hình thức đối lập chính trị. Họ đã biến những quốc gia này thành các nhà nước độc đảng và dựng lên những chế độ bù nhìn. Mà họ chẳng màng làm sao cho lặng lẽ êm thấm. Mười một tháng sau bài diễn văn của Truman, vào tháng 2 năm 1948, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đảo chính và ném Ngoại trưởng Jan Masaryk ra khỏi cửa sổ Lâu đài Praha. Mỹ chẳng can thiệp.
Tuy thỉnh thoảng có bàn đến việc “giải phóng” và “đẩy lùi”, Mỹ vẫn giữ chính sách không can thiệp đối với Đông Âu trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Những cuộc đình công và biểu tình ở Đông Đức năm 1953 và Ba Lan năm 1956 bị đàn áp bằng bạo lực và, tuy những người đình công mong Mỹ ra tay, nhưng Mỹ đã không can dự.
 
Những cuộc biểu tình ở Hungary năm 1956 biến thành một cuộc cách mạng toàn diện, và chính phủ được Liên Xô hậu thuẫn bị lật đổ. Hồng Quân tiến vào. Hơn hai ngàn người Hungary bị giết, hai trăm ngàn người bỏ nước ra đi, và Imre Nagy, người cộng sản có tư tưởng cải cách, lãnh tụ của chính phủ mới, bị bắt, xử kín rồi treo cổ để làm gương cho những người bất đồng khác. Những nhà cách mạng này cũng đã kỳ vọng phương Tây giúp đỡ, nhưng chẳng được đáp ứng. Chính phủ Mỹ cam đoan với Điện Kremlin rằng Mỹ không có lợi ích quốc gia gì ở Hungary. Khi một số người than phiền rằng trong nhiều năm Đài phát thanh Châu Âu Tự do đã kêu gọi người Hungary chống lại sự thống trị của Liên Xô, Tổng thống Eisenhower nói rằng Mỹ chưa bao giờ cổ xúy cho phản kháng bạo lực.
Mỹ chẳng làm gì để ngăn chặn việc dựng bức tường bao quanh Tây Berlin năm 1961, ngoài việc buộc Liên Xô phải đồng ý, trên nguyên tắc, người phương Tây có thể di chuyển bất cứ nơi đâu trong thành phố này mà không bị cản trở. Nguyên tắc đó chưa bao giờ được kiểm chứng. Tháng 8 năm 1968, năm trăm ngàn binh lính thuộc Khối Warszawa tràn vào Tiệp Khắc và vài tháng sau lật đổ chính phủ có thiên hướng cải cách của Alexander Dubcek. (Auden dùng thời điểm xâm lược này làm tựa đề cho một bài thơ khác, bắt đầu bằng “Yêu tinh làm được những gì loài yêu tinh vốn giỏi, / Những kỳ công Con người không thể đạt được, / Nhưng một ước vọng nó không thể vươn tới: / Yêu tinh không thể làm chủ Ngôn từ.”[iii]) Không một cường quốc phương Tây nào can thiệp.
Cả Mỹ lẫn các nước dân chủ khác không hề đóng vai trò quan trọng gì, ngoài việc tung hô, trong Cuộc Cách mạng Nhung năm 1989 dẫn đến việc lật đổ chủ nghĩa cộng sản và sự sụp đổ của đế chế Xô Viết. Trong bốn mươi lăm năm, Liên Xô được phép lộng hành ở Đông Âu, một tình trạng thường bị chính thức phớt lờ, và đôi khi thậm chí còn bị chính thức bác bỏ. Năm 1976, Tổng thống Gerald Ford, với thâm niên hai mươi bảy năm ở Washington, trong một cuộc tranh luận với Jimmy Carter, đã phát biểu rằng “không có chuyện Liên Xô thống trị Đông Âu”. (Về sau, để cải chính ông nói rằng người Đông Âu không cảm thấy bị thống trị.)
DO không sợ bị trừng phạt, Liên Xô rảnh tay tiến hành một trong những thí nghiệm cực đoan nhất về biến đổi xã hội trong lịch sử. Từ năm 1945 đến 1953, năm Stalin chết, những xã hội Đông Âu bị tái tạo từ trên xuống dưới. Mục tiêu không phải là ép buộc người dân phục vụ một hệ thống chính trị mới. Mục tiêu là tạo ra một loại người mới, một loại người không nhất thiết phải ép buộc mới phục vụ hệ thống. Việc tạo ra loại con người mới đó là cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện, và những phương tiện đó là chủ đề của cuốn sách này: cách Liên Xô và đội ngũ cán bộ đảng sở tại  phấn đấu xây dựng thế giới xã hội chủ nghĩa hoàn hảo.
Cuốn sách trước của Applebaum là Lịch sử hệ thống lao tù Gulag (Gulag: A History) xuất bản năm 2003. Cuốn sách đó giúp độc giả thấy được người thật việc thật của một con số thống kê kinh hoàng. Từ năm 1929, khi Stalin củng cố vững chắc vị trí người thừa kế Lenin, đến năm 1953, mười tám triệu người bị đưa vào trại lao động ở Liên Xô. Hơn hai triệu đã chết trong trại. Applebaum dùng các hồi ký và lời kể để khắc họa cách vận hành của hệ thống nhà tù Gulag – mô tả thân phận của những người lọt vào cái họng ngấu nghiến không biết chán của guồng máy thanh lọc kiểu Stalin, bị bắt và chuyển đi, bị cầm tù và hành hạ, và nếu may mắn thì nhiều năm sau mới được thả. Bà góp phần nhân tính hóa một hành động vô nhân đạo.
Cuốn sách mới này tái tạo cuộc sống trên đường phố và trong những nhà tù của Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc, Romania, Bulgaria, Nam Tư, và Đông Đức trong những năm diễn ra công cuộc Stalin hóa. Bức màn sắt giúp ta hình dung được cảm giác của người bị sa bẫy trong thí nghiệm của Liên Xô, là nhân chứng của việc phá bỏ và tái lập môi trường sống của mình. Applebaum muốn đưa ví dụ sinh động cho một khái niệm. Bà nói: “Tôi muốn hiểu rõ chủ nghĩa toàn trị thật sự, không phải chủ nghĩa toàn trị trên lý thuyết, mà là chủ nghĩa toàn trị trên thực tế”.
Thuật ngữ này xuất phát từ nước Ý. Theo Abbott Gleason, trong cuốn sách sử chuẩn mực về khái niệm này, Chủ nghĩa toàn trị: Lịch sử bên trong của Chiến tranh Lạnh(Totalitarianism: The Inner History of the Cold War, 1995), thuật ngữ này được dùng đầu tiên vào năm 1923. Khi đó, một đối thủ của Benito Mussolini đã chỉ trích chính quyền phát xít là “sistema totalitaria” (“hệ thống toàn trị”). Mussolini chẳng màng. Đến năm 1925, ông hãnh diện nói đến “la nostra feroce volontà totalitaria” (“ý chí toàn trị mãnh liệt của chúng ta”). Ông dùng chữ “toàn trị” để nói về một nền chính trị nhắm đến việc biến đổi xã hội một cách toàn diện.
Ở nước Đức Quốc xã và ở Liên Xô, tác nhân của sự biến đổi này không phải là nhà nước. Mà là đảng. Nhà nước, đặc biệt là nhánh tư pháp, chỉ là bù nhìn quản lý hành chính của đảng. Sở dĩ như vậy là do mục đích của sự biến đổi toàn trị không chỉ là tính hiệu quả – “bảo đảm tàu chạy đúng giờ”, như cách trước đây người ta thường nói về nước Ý phát xít. Mục đích cũng không phải tận hưởng quyền lực chỉ vì mê quyền lực như cách mô tả các chế độ toàn trị trong các tác phẩm như 1984 của George Orwell.[iv] Mục đích là hiện thực hóa một quy luật phát triển lịch sử, mà hiểu đúng chính là sự độc quyền của đảng. Ở nước Đức của Hitler, cuộc sống bị biến đổi nhân danh một mục tiêu duy nhất: tính thuần khiết sắc tộc. (Trong cuốn Cuộc tranh đấu của tôi [Mein Kampf], Hitler viết: “Nhà nước chỉ là cái thùng, và sắc tộc là cái chứa đựng trong thùng”.) Ở Liên Xô, cuộc sống bị biến đổi nhân danh một xã hội không có giai cấp và nhà nước của công nhân.
Sức mạnh của những ý thức hệ mơ về một xã hội lý tưởng là điều khiến các chế độ toàn trị như nước Đức Quốc xã và nước Nga của Stalin khác với những chế độ độc tài truyền thống, và khiến chúng trở nên đáng kinh hãi. Chúng không đơn thuần là những hệ thống siêu kiểm soát tĩnh. Chúng là những hệ thống động và không ổn định một cách nguy hiểm. Những hệ thống đó xem hiện tại chỉ là một giai đoạn tạm thời trong tiến trình diễn biến của lịch sử, và tính hoang tưởng của điều không thể trở thành hiện thực trong tương lai – tính chất Đức thuần túy, hay xã hội không có giai cấp – khiến điều đã và đang diễn ra trở thành cái phải bị hủy diệt hay khuất phục. Mọi thứ đều có thể bị hy sinh.
Người dân bị cầm tù, trục xuất hay tử hình ở các nước toàn trị không phải vì là mối đe dọa cho chế độ, mà vì là mối đe dọa cho tương lai, một phạm vi bao hàm rộng hơn nhiều. Applebaum kể chuyện một người Ba Lan bị tử hình vì sở hữu một máy thu thanh không có giấy phép, chuyện một thợ in bị kết án năm năm tù vì lỗi sắp chữ trong một bài cáo Stalin, chuyện những thanh thiếu niên bị đưa vào trại hoặc tống giam vì nhăn mặt trong một bài giảng về Stalin. Đến năm 1954, sáu triệu người ở Ba Lan bị ghi sổ là tội phạm hoặc các phần tử đáng nghi ngờ. Tức là gần một phần tư dân số nước này.
Nhưng đối tượng chính của công cuộc tái tạo toàn trị không phải những cá nhân bất đồng hay không chấp hành. Đối tượng chính là xã hội dân sự. Bất cứ tổ chức nào hoạt động ngoài tầm ảnh hưởng của Đảng đều bị loại trừ hoặc quốc hữu hóa. Ở Đông Đức, tất cả các câu lạc bộ đi bộ dã ngoại và câu lạc bộ cờ vua đều bị cấm. Gần như tất cả mọi tiệm ăn ở Budapest đều trở thành “căng-tin nhân dân” hoặc quán công nhân thuộc quốc doanh. Ở Ba Lan, Y.M.C.A.[v] bị bôi nhọ là “công cụ của chủ nghĩa phát xít tư sản”. Tất cả các tổ chức thanh niên đều bị gộp chung thành một cơ quan duy nhất do cộng sản quản lý. Các trường đại học bị thanh lọc. Hoạt động phân tích tâm lý, “sản phẩm của chủ nghĩa tư bản thối nát và ý thức hệ chống nhà nước”, bị cấm.
Quan trọng nhất đối với những nước như Ba Lan là đảng cố gắng vô hiệu hóa ảnh hưởng của Công giáo. Những trường học thuộc giáo hội bị quốc hữu hóa; các tu viện và trường dòng bị chấm dứt hoạt động; những bệnh viện, nhà dưỡng lão, và tổ chức từ thiện của Công giáo bị đóng cửa. Các lãnh tụ giáo hội bị tống tiền, khủng bố và ngược đãi. Các tu sĩ được chiêu mộ làm kẻ chỉ điểm tố giác những tu sĩ khác: đến năm 1953, có một ngàn tu sĩ Ba Lan ở tù.
Các chính sách đàn áp gặp đối thủ xứng tầm trong một lĩnh vực: giải trí đại chúng. Trước chiến tranh, Hungary có ngành điện ảnh lớn thứ ba ở Châu Âu. Sau khi Hitler nổi lên, nhiều đạo diễn và nhà quay phim Hungary di cư sang Hollywood (ở đó họ góp phần tạo ra thể loại film noir Mỹ.[vi] Sau năm 1945, dưới sự cai trị của cộng sản, giới làm phim Đông Âu buộc phải sáng tác những tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa, ngợi ca nhà nước của công nhân. Nhưng hệ thống giám sát chính trị sát sao lại tương đối kém hiệu quả, và không lâu bền. Kiểm duyệt lời thoại trong kịch bản thì dễ, còn kiểm duyệt hình ảnh hay cách diễn đạt ẩn dụ thì khó hơn nhiều. Bất chấp những trở ngại lớn lao, đã có một nền điện ảnh Đông Âu có phần đặc sắc trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Đảng cũng đánh vật với những ảnh hưởng của nhạc pop. Thanh thiếu niên ở Ba Lan và Đông Đức hóa ra chẳng khác gì với thanh thiếu niên ở San Francisco hay Liverpool. Đảng càng truy quét nhạc jazz và rock & roll, giới trẻ thưởng thức âm nhạc càng thách thức điên cuồng. Cũng như ở phương Tây, việc người lớn không tán thành dòng nhạc này đã dẹp tan quan niệm phóng khoáng cho rằng tiết tấu nhạc rock & roll có phảng phất tư tưởng gây nổi loạn và thay đổi thế giới. Nếu người ta tìm cách dập tắt nó, chắc hẳn nó đang đe dọa ai đó.
Phim The Wild One (Kẻ ngông cuồng),[vii] phim Blackboard Jungle (Rừng bảng đen),[viii] và bài hát Rock Around the Clock (Chơi nhạc rock suốt ngày suốt đêm)[ix] gây ra những cuộc bạo động của giới trẻ ở cả Đông lẫn Tây Đức năm 1955 và 1956. Trong “Chiến tranh Lạnh văn hóa” khét tiếng, C.I.A. âm thầm tài trợ – còn Bộ Ngoại giao và các viện bảo tàng và tổ chức Mỹ công khai tài trợ – việc phổ biến nghệ thuật, sách, báo chí văn học và tri thức, khiêu vũ, kịch nghệ, và âm nhạc Mỹ. Trong thời kỳ đó, có thể nhận định một cách hợp lý rằng sản phẩm duy nhất đã tạo ra khác biệt trong việc cuối cùng lật đổ chủ nghĩa cộng sản chính là nhạc rock & roll. Bill Haley[x] và Frank Zappa[xi] có lẽ có công tạo cảm hứng cho những người bất đồng ở Đông Âu nhiều hơn Jackson Pollock[xii] hay những tác gia ở tạp chí Partisan Review.[xiii]
Liên Xô kiểm soát các thuộc địa của mình thông qua một mạng lưới những nhân vật chóp bu sở tại, những kẻ nhượng quyền lực tối thượng cho Điện Kremlin để đổi lại những thứ mà họ tưởng tượng là các đặc quyền cá nhân và bảo đảm được tại vị. Những nhóm chóp bu này chủ yếu bao gồm các đảng viên cộng sản được Moskva huấn luyện, những người mà Stalin có thể tin tưởng (tạm thời, vì chế độ toàn trị là một hệ thống trong đó người ta e dè và nghi kỵ lẫn nhau). Như Charles Maier lý giải trong cuốn Giữa các đế chế (Among Empires, 2006), đây là cách vận hành truyền thống của các đế chế: tạo ra giới chóp bu sở tại biết bắt chước những cách hành xử và các giá trị của trung tâm đế quốc, dù đó là Moskva, Washington, London hay Rome.
Ở Đông Âu, những lãnh tụ này trở thành các “tiểu Stalin” theo cách gọi của Applebaum: Klement Gottwald, ở Tiệp Khắc; Georgi Dimitrov, ở Bulgaria; Walter Ulbricht, ở Đông Đức; Mátyás Rákosi, ở Hungary – những người này đã sống một phần hay trọn những năm chiến tranh ở Moskva. Họ được phép hành động như thể họ là nguyên thủ của các quốc gia độc lập (điều này ít nhất dường như là lừa được Tổng thống Mỹ Gerald Ford), và được phép lợi dụng (một cách cẩn trọng) những tâm lý dân tộc chủ nghĩa và sắc tộc, đặc biệt là tâm lý bài Do Thái. Nhưng lòng trung thành của họ dành cho Moskva. Theo tác giả Applebaum, có hai lĩnh vực quá quan trọng nên thậm chí cả chính phủ bù nhìn cũng không được nắm: phát thanh và mật vụ. Liên Xô kiểm soát cả hai mảng này ngay từ lúc đổ quân vào.
Tâm lý phức tạp của người nghệ sĩ hay trí thức bị buộc phải thích nghi với chế độ toàn trị đã được biết đến nhiều ở phương Tây qua những cuốn sách như Tâm trí bị giam cầm (The Captive Mind, 1953) của Czeslaw Milosz,[xiv] Tầng đầu địa ngục (The First Circle, 1968) của Aleksandr Solzhenitsyn,[xv]Sách về tiếng cười và lãng quên (The Book of Laughter and Forgetting, 1979) của Milan Kundera.[xvi] Giá trị của Bức màn sắt là cuốn sách này nói về sự nghiệp của những nhân vật chính trị và tôn giáo mà hiếm có ai ở phương Tây từng nghe đến, với số phận của những truyền thống và tổ chức quy mô nhỏ sở tại, và với những trải nghiệm của người dân thường.
BỨC màn sắt là một cuốn sách hậu Chiến tranh Lạnh. Cuốn sách này không phải là lời hiệu triệu, hay cảnh báo về những mối nguy hiểm tiềm ẩn trong xã hội của chính chúng ta. Đây là sách sử, một nỗ lực tìm hiểu và tái hiện một thế giới đã biến mất. Applebaum không hề nhìn nhận Liên Xô và thí nghiệm Đông Âu của họ với tấm lòng thanh thản, nhưng bà chủ yếu quan tâm đến cách thực hiện và thực tế diễn biến của thí nghiệm này. Bà có thể xem việc độc giả không tán thành là chuyện đương nhiên, điều mà không phải lúc nào cũng đúng khi Chiến tranh Lạnh đang diễn ra. Chủ nghĩa cộng sản kiểu Xô Viết nay không còn là một hiện tượng có hai cách nhìn khác nhau. Nay người ta không nhìn hệ thống nhà tù Gulag mà nói, “Ừ, không xẻ ván sao đóng được thuyền”.
Tác phẩm của Applebaum còn là cuốn sách hậu Chiến tranh Lạnh ở một khía cạnh khác. Bà viết được cuốn sách này là nhờ các văn khố lưu trữ được công khai, sau năm 1989, ở Nga và những nước trước đây thuộc Khối Đông Âu. Đó là nguồn tư liệu chính của bà, mặc dù bà cũng phỏng vấn những người sống sót qua những năm đó. Tất nhiên không phải mọi thứ đều được công khai cho các sử gia, và có lẽ nhiều tư liệu đã hoặc sẽ bị tiêu hủy trước khi được nghiên cứu. Nhưng chừng đó cũng đủ để biết thêm nhiều điều, từ đó sửa đổi hiểu biết của chúng ta về những nguồn gốc và cách hành xử của Chiến tranh Lạnh.
Có hai phát hiện đặc biệt đáng chú ý. Thứ nhất, Stalin không có kế hoạch xâm lăng Tây Âu. Chiến tranh với Mỹ hình như là điều ông ta e sợ. Năm 1945, Liên Xô rất yếu. Ngoài tổn thất cơ sở hạ tầng – theo cuốn Chiến tranh tuyệt đối (Absolute War, 2007) của Chris Bellamy về chiến tranh giữa Đức và Liên Xô, 1.700 thị trấn, 70.000 làng, 25.000 trường học, 32.000 nhà máy công nghiệp, và 65.000 km đường sắt bị phá hủy – hơn 26 triệu binh lính và dân thường chết trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, gần 15 phần trăm dân số.
Liên Xô quả thực có hồi phục (cũng như các nước Tây Âu trong nhiều trường hợp có cơ sở hạ tầng bị phá hủy trầm trọng gần như không kém Liên Xô). Nhưng giới lãnh đạo Liên Xô không mơ đến chuyện khuất phục phương Tây bằng vũ lực. Mối đe dọa quân sự của Liên Xô thường bị Mỹ phóng đại, đôi khi do chính những người hiểu rõ hơn. Bức màn sắt không phải vô hình: có một dải đất với lính gác và tuần tra nghiêm ngặt vắt ngang trung tâm lục địa Châu Âu. Không có chuyện người ta tình cờ lạc vào, hay bước ra khỏi Khối Đông Âu. Mục đích chính là xác định ranh giới: đây là phía của chúng tôi; kia là phía các anh. Gồng gánh một khối thuộc địa với dân số khoảng 90 triệu người đã quá đủ để quân đội Liên Xô và kinh tế Liên Xô bận tối tăm mặt mũi. Rốt cuộc, đúng là nhiều quá không kham nổi.
Phát hiện thứ hai từ văn khố lưu trữ là, theo cách nói của sử gia Vojtech Mastny, không có hoang tưởng kiểu tâm thần phân liệt. Chủ nghĩa Marx-Lenin không phải là cái lốt hay bình phong ý thức hệ che đậy một đám kẻ cướp khát quyền lực (dù chúng đúng là kẻ cướp). Đó là thế giới quan của giới lãnh đạo Liên Xô – điều họ thực sự tin tưởng.
Thế giới quan đó là một lý do tại sao không có kế hoạch tức thì để tấn công Tây Âu. Chủ nghĩa Marx kiểu Xô Viết – tức là, lý thuyết Marx theo cách diễn giải và giáo điều của Plekhanov, Lenin, Trotsky, và Stalin – cho rằng các nước tư bản sẽ luôn gây chiến với nhau, và những cuộc chiến tranh này sẽ là mối nguy cho các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô. Đó chính là cách Stalin hiểu Chiến tranh Thế giới Thứ hai, xem đó là trận chiến giữa những nước tư bản.
Stalin cần có một vùng đệm an ninh ở các biên giới phía tây và quân đội lớn, trang bị vũ khí hạt nhân, vì ông ta tin rằng khi các nước tư bản lại tham chiến, như dự đoán của lý thuyết Marx, họ sẽ tấn công Liên Xô. Ông cũng tin, theo giáo điều của lý thuyết đó, rằng một cuộc cách mạng thế giới dẫn đến chủ nghĩa xã hội phổ quát là điều tất yếu: đó là chiều hướng diễn tiến của lịch sử. Liên Xô nên biết tận dụng cơ hội trong khi đợi đạt đến tuyệt đích này; nhưng sớm hay muộn thì lịch sử cũng sẽ hoàn thành mục tiêu đó.
Sự hồi phục nhanh chóng của Tây Âu sau chiến tranh, việc kinh tế Mỹ không sụp đổ, và sự thịnh vượng nói chung ở các nước đã phát triển không thuộc khối xã hội chủ nghĩa quả là cú sốc đối với thế giới quan này. Bản thân Stalin không thích đi lại; ông ít khi vi hành bên trong Liên Xô, và lần đầu tiên ông đi máy bay là lúc bay đến Iran, năm 1943, để tham dự Hội nghị Tehran, với Roosevelt và Churchill. Ông nghi ngờ bất cứ công dân Liên Xô nào từng ra nước ngoài, kể cả với tư cách tù binh. Nhiều cựu tù binh bị đưa đến Gulag; hàng ngàn người bị tử hình. Do đó, một mục đích quan trọng của Bức màn sắt là để ngăn cản không cho người dân ở Liên Xô và các nước khối Đông Âu tận mắt thấy mức sống thực sự ở phương Tây.
Câu chuyện do Applebaum kể khẳng định điều mà xưa nay luôn có vẻ hơi khó tin về công tác tuyên truyền và truyền bá ý thức hệ: hoạt động này hết sức thô thiển. “Mỗi con lợn thụ tinh nhân tạo là một cú đấm vào mặt bọn đế quốc hiếu chiếu” là loại khẩu hiệu tác giả thuật lại trong cuốn sách này. Chế độ nào cũng tạo ra ít nhiều giáo điều hô hào dân vận như vậy, nhưng dưới chế độ Stalin, tất thảy đều kiểu đó.
Theo Applebaum, đảng tìm cách loại bỏ giới trí thức và các tầng lớp chuyên gia, và luôn kết nạp từ giới ít học và tầng lớp dưới của xã hội. Trong đầu họ có ít thứ cần được tẩy não hơn, họ ít có năng lực nghi ngờ và bất đồng, và họ được khích lệ tinh thần bởi cảm nhận rằng phục tùng chủ thuyết của đảng giúp họ có đường vươn lên. Applebaum viết: “Nhìn sơ qua những bối cảnh xã hội của giới lãnh đạo Đông Âu trong những năm 1980 ta thấy nhiều nhà hoạt động tuy xuất thân khiêm tốn nhưng rốt cuộc đã leo lên đến vị trí cao nhất”.
Tuy nhiên, nhiều người có học vẫn quy phục mà chẳng có hứa hẹn được tưởng thưởng. “Về một mặt nào đó, đây là thiên tài của chủ nghĩa toàn trị Xô Viết”, Applebaum viết. “Hệ thống này tạo ra nhiều nhóm lớn những người không thích chế độ và biết rằng tuyên truyền sai, nhưng do hoàn cảnh đành phải đi theo”. Tất nhiên, “hoàn cảnh” bao gồm cả khả năng có thể bị gõ cửa hỏi thăm. Chỉ cần tưởng tượng đến tiếng gõ cửa đó có lẽ cũng đủ để cho hầu hết mọi người tìm ra con đường ít phản kháng nhất. Applebaum kể chuyện hai chị em người Hungary sống chung nhà. Chẳng ai bảo ai, mỗi người tự cảm thấy nghi ngờ sự thật của những điều chế độ đang nói, nhưng vì nghĩ người kia vẫn còn trung thành với chế độ nên tiếp tục nhắc lại những khẩu hiệu sặc mùi Stalin với chị/em của mình.
Từ nghiên cứu của mình, Applebaum kết luận rằng khả năng của công tác tuyên truyền Xô Viết trong việc tái tạo, hay tẩy não, người dân đã bị phóng đại, và số người thực tình ủng hộ hệ thống này do vậy cũng bị ước tính quá cao. “Con người mới” – hay Con người Xô Viết như cách gọi trào phúng – hóa ra cứ lẩn quất đâu đó, chẳng ai thấy được. Applebaum viết: “Con người không đạt được ‘những tính cách toàn trị’ dễ dàng như vậy”.
VỀ mặt này, suy cho cùng có lẽ không nên làm sống lại khái niệm chủ nghĩa toàn trị. Phần lớn những tác giả ban đầu viết về chủ nghĩa toàn trị, từ Erich Fromm[xvii] và Hannah Arendt[xviii] đến Orwell và Arthur Schlesinger con,[xix] tin rằng chủ nghĩa toàn trị có liên quan đến bản chất con người, và chủ nghĩa toàn trị trỗi dậy từ những điều kiện xã hội và tâm lý của cuộc sống hiện đại. “Có một Hitler, một Stalin trong mỗi lồng ngực”, Schlesinger viết như vậy trong cuốn Phái trung dung trọng yếu (The Vital Center, 1949),[xx] và nhiều tác giả khác lặp lại suy nghĩ này. Họ lo ngại rằng chủ nghĩa toàn trị được lịch sử ủng hộ, và nó có thể là cách tổ chức xã hội trong tương lai.
Schlesinger đã đổi ý. Khi cuốn Phái trung dung trọng yếu được tái bản, vào năm 1987, ông nói ông đã từ bỏ “thuyết huyền bí về chủ nghĩa toàn trị do George Orwell và Hannah Arendt truyền bá … Những nhà nước toàn trị không hề như tôi đã nghĩ vào năm 1949 là đại diện cho sự thay đổi giai đoạn trong cách tổ chức xã hội; những nhà nước toàn trị chẳng khác gì triều đình Tartar được trang bị công nghệ hiện đại”. Cuốn Bức màn sắt ủng hộ cách lý giải hiệu chỉnh này. Đông Âu không tất yếu phải đi theo con đường Stalin, cũng như Đức không tất yếu phải trở thành phát xít. Chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Stalin là những hệ thống chính trị và kinh tế nguy hiểm nhưng bất hợp lý, không hiệu quả, và sau hết là tự hủy diệt. Không phải chuyện những hệ thống đó “trái tự nhiên”; con người có khả năng thích ứng với xã hội theo nhiều cách. Mà là chuyện những hệ thống đó thậm phi lý. Từ một góc độ nào đó, chủ nghĩa Stalin chung quy chỉ là một nỗ lực biến con người thành những người cộng sản tốt hơn bằng cách giam cầm hoặc giết những ai không được như vậy. Khi thời kỳ khủng bố cuối cùng chấm dứt, cuộc sống trở lại bình thường như cũ.
Một tác giả chống lại “thuyết huyền bí về chủ nghĩa toàn trị” trong những năm đầu của Chiến tranh Lạnh là nhà xã hội học David Riesman. Ông nhận định, phản biện lại Arendt (người mà ông thân quen) và những người khác, rằng con người không dễ dàng bị biến đổi như giả định của thuyết chủ nghĩa toàn trị. “Kết luận đáng chú ý nhất có thể rút ra từ tình trạng của nước Đức hiện nay, từ câu chuyện của những người tỵ nạn lánh khỏi vùng đất đằng sau Bức màn sắt, thậm chí từ hành vi hiện nay của những người trước đây ở trại tập trung”, ông viết vào năm 1954, “chính là việc rất khó hủy diệt vĩnh viễn phần lớn mọi người về mặt tâm lý”.
Riesman nghĩ rằng thậm chí bên trong những nhà nước toàn trị thành công cũng có những hình thức phản kháng diễn ra hàng ngày – không phải là kiểu phản kháng dũng cảm của những người bất đồng mà là những kiểu phản kháng chẳng lấy gì làm cao quý dưới dạng tâm lý thờ ơ, tham nhũng, và tội ác. Nếu Applebaum thêm một chương vào cuốn sách đáng phục và mạch lạc dễ hiểu này, có thể là chương về nạn hối lộ, tình trạng vô trách nhiệm, và thị trường chợ đen. Đó là những điều ai cũng biết, và chỉ riêng sự tồn tại của chúng đã là bằng chứng cho những ngụy biện của ý thức hệ này và những thất bại của hệ thống này.
PHẢI chăng Mỹ lẽ ra đã có thể ngăn chặn việc Stalin hóa Đông Âu? Trong hơn năm mươi năm, những người nghĩ rằng câu trả lời là có đã lý giải bằng một từ: Yalta. Yalta là nơi Roosevelt, Churchill, và Stalin tổ chức hội nghị thượng đỉnh cuối cùng của họ về Chiến tranh Thế giới thứ hai, vào tháng 2 năm 1945, và là nơi, như hai thế hệ các nhà phê bình đã tin, Roosevelt giao Ba Lan và phần còn lại của Đông Âu cho Stalin. Hai cuốn sách xuất sắc về Yalta, dùng tài liệu từ các văn khố lưu trữ của Liên Xô – cuốn Yalta: Cái giá của Hòa bình (Yalta: The Price of Peace, nhà xuất bản Penguin) của S. M. Plokhy và cuốn Yalta 1945: Châu Âu và Mỹ ở Giao lộ (Yalta 1945: Europe and America at the Crossroads, nhà xuất bản Cambridge) của Fraser J. Harbutt – đã nêu rõ rằng những vấn đề đặt lên bàn đàm phán rất phức tạp, và không chỉ sự thơ ngây và sức khỏe suy sụp của Roosevelt (ông mất vào tháng Tư) đã dẫn đến một Châu Âu bị phân hóa.
Suy cho cùng, như Tony Judt đã nhận định súc tích trong cuốn Hậu chiến (Postwar, 2005),[xxi] “Yalta thực ra chẳng có ý nghĩa quan trọng”. Ngay từ lúc khởi đầu của cái mà Churchill gọi là khối Đại Liên minh, Stalin đã khẳng định là ông mong được giao quyền kiểm soát Ba Lan hậu chiến (và những vùng khác nêu trong hiệp ước tiền chiến giữa ông và Hitler), và đến lúc diễn ra Hội nghị Yalta quân đội của ông đã chiếm hữu phần lớn đất nước đó, với một nhóm đảng viên cộng sản Ba Lan do chính ông chọn ở Warszawa. Ở Mặt trận phía Tây vào tháng 2 năm 1945, quân Đồng minh vừa mới chịu thương vong kinh khủng ở Trận Ardennes (Battle of the Bulge), và chưa vượt qua sông Rhine. Cuộc chiến ở Thái Bình Dương (mà Liên Xô chưa tham gia) vẫn còn tiếp diễn. Ngoài việc rút ủng hộ vật chất và tài chính cho Hồng Quân, một nước cờ mạo hiểm với những hậu quả khôn lường, Mỹ chẳng có bao nhiêu sức mạnh trong đàm phán. Mục tiêu của Đồng minh lúc đó, vẫn luôn luôn như vậy từ trước, là tiêu diệt nước Đức Quốc xã, chứ không phải cứu Ba Lan.
Ở Yalta, Roosevelt chủ yếu quan tâm đến việc thuyết phục được Liên Xô tham gia vào Liên Hợp Quốc mới ra đời, nhưng ông cũng là người thực tế nên thấu hiểu ván cờ chính trị tạo vùng ảnh hưởng chi phối kiểu Đại Cường quốc mà Churchill và Stalin theo đuổi. Khi các Đại Cường quốc phân chia thế giới, họ chiều theo lợi ích quốc dân của nhau. Anh muốn đưa Pháp trở lại vị thế cường quốc, nhằm duy trì cán cân quyền lực ở lục địa Châu Âu. Khi Stalin, vốn khinh bỉ người Pháp vì họ nhanh chóng đầu hàng người Đức năm 1940, nhượng bộ yêu cầu của Anh, phần đền bù cho Stalin là ông được rảnh tay ở Ba Lan.
Mỹ gần như không có lợi ích kinh tế hay chiến lược gì ở Đông Âu. Trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, hai phần trăm trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ xuất sang Đông Âu, 3,5 phần trăm nhập khẩu từ Đông Âu, và 5,5 phần trăm tài sản Mỹ ở nước ngoài nằm ở Đông Âu. Áp lực quan trọng duy nhất đối với Roosevelt hẳn là lá phiếu những cử tri Mỹ gốc Ba Lan, và lúc diễn ra Hội nghị Yalta, bầu cử Tổng thống Mỹ đã kết thúc.
Điều mà Churchill và Roosevelt không tiên liệu được chính là điều Applebaum mô tả: Liên Xô không dừng lại ở việc dựng nên những chế độ thân thiện ở các nước có chung biên giới với mình, mà còn tiến hành công cuộc tái tạo toàn trị cho toàn khu vực này, hoàn tất với việc thanh lọc sắc tộc. Tuy nhiên, không rõ là ngay cả Stalin có tiên liệu được chiều hướng diễn tiến các sự kiện hay không. Tất cả các bằng chứng cho thấy rằng Điện Kremlin tin rằng Đảng Cộng sản sẽ dễ dàng thắng các cuộc bầu cử công khai ở những nước được giải phóng. Chỉ khi sau khi điều này hóa ra là ảo tưởng thì Liên Xô bắt đầu thực sự mạnh tay can thiệp.
Suy cho cùng, bàn cờ năm 1945 không có nhiều thế tàn cuộc khả dĩ. Thời điểm để thể hiện lập trường về quyền tự quyết ở Đông Âu đã đến rồi đi sớm hơn nhiều, thậm chí có lẽ vào lúc Anh tham gia liên minh quân sự với Liên Xô, ngay sau khi Đức xâm lược. Nếu không có Hồng Quân, việc giải phóng Châu Âu bị phát xít chiếm đóng bằng quân sự có vẻ gần như bất khả thi, và, do Mỹ chưa tham chiến, có vẻ như rốt cuộc Anh sẽ thua trận. Tuy vẫn luôn điên cuồng chống Bolshevik, Churchill cảm thấy ông phải xem Stalin như người ngang hàng và đồng minh. Ông hiểu con người của Stalin. “Nếu Hitler xâm lăng Địa ngục”, ông nói, “Ít nhất tôi cũng sẽ nói tốt về Quỷ sứ khi phát biểu ở Hạ nghị viện”.
Nhưng Stalin cũng ở thế khó. Sau khi vừa mới thanh lọc quân đội Liên Xô, ông không chuẩn bị sẵn sàng đối phí với cuộc xâm lăng của Đức. Nếu như Anh và Mỹ (vốn đã bắt đầu một chương trình cho vay-cho thuê[xxii] khá hào phóng để Hồng Quân có thể tiếp tục chiến đấu) đã ra điều kiện về Đông Âu, thì vào năm 1941, khi quân Wehrmacht [các lực lượng vũ trang thống nhất của Đức] sắp sửa tiến vào Moskva, Bức màn sắt có lẽ đã không buông xuống bốn năm sau đó. Nhưng đến năm 1945 thì đã quá muộn, và Quỷ sứ đến Yalta, đòi lại món nợ của mình.
Phải chăng Mỹ lẽ ra đã nên can thiệp trước năm 1989 để chấm dứt sự chia cắt Châu Âu? Năm 1958, trong một hội thảo được tổ chức với sự bảo trợ của Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa (Congress of Cultural Freedom) được C.I.A. hậu thuẫn, nhà lý thuyết chính trị người Pháp Raymond Aron nhận định rằng chia cắt là giải pháp ít nguy hiểm hơn bất cứ giải pháp nào khác. Những gì diễn ra ở một phía của bức tường ở lại phía bên đó của bức tường, chứ không có ảnh hưởng gì với phía bên kia. Hiếm có lãnh tụ nào ở phương Tây thực sự muốn thấy Bức màn sắt được tháo bỏ, chừng nào Liên Xô còn tồn tại. Họ không muốn gây chiến, trong thời đại hạt nhân, nhân danh những người đình công ở Ba Lan. Chí ít bức tường đó là quảng cáo thường trực cho bản chất ngục tù của chủ nghĩa cộng sản Xô Viết. Như tác giả Applebaum đã minh chứng bằng tư liệu, chỉ có điều những nước cờ địa chính trị đó, dù có thể đã thận trọng và hợp lý đến đâu chăng nữa, đã khiến nhân loại trả giá.
____________
Chú thích ảnh: Xe tăng Liên Xô ở Budapest năm 1956, trong cuộc cách mạng Hungary. (Ảnh: AFP/Getty)
Nguồn: Dịch từ nguyên bản tiếng Anh: Louis Menand, “Bloc heads – Life behind the Iron Curtain”, The New Yorker, 12/11/2012. Tất cả các chú thích là của người dịch.
Bản tiếng Việt © 2012 Phạm Vũ Lửa Hạ & pro&contra

[i] W. H. Auden (1907-1973): nhà thơ người Mỹ gốc Anh. Toàn văn tiếng Anh của bài thơ September 1, 1939 (Ngày 1 tháng 9 năm 1939) có ở đây.
[ii] Winston Churchill đọc bài diễn văn này tại Đại học Westminster ở Fulton, tiểu bang Missouri, Mỹ, vào ngày 5/3/1946. Tuy Churchill không bao giờ đặt tựa cho các bài phát biểu của mình, bài này được thế giới biết đến qua tựa đề “Iron Curtain” (Bức màn sắt) hoặc “The Sinews of Peace” (Những nguồn tiếp sức của hòa bình). Toàn văn tiếng Anh của bài này có ở đây. Anne Applebaum trích một đoạn từ bài này để mở đầu chương giới thiệu cuốn sách.
[iii] Toàn văn tiếng Anh của bài thơ August 1968 (Tháng 8 năm 1968) có ở đây.
[iv] George Orwell (1903-1950): bút danh của Eric Arthur Blair, nhà văn người Anh. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là 1984 (xem bản dịch của Phạm Minh Ngọc ở đây) và Animal Farm (xem bản dịch Trại súc vật của Phạm Minh Ngọc ở đây).
[v] Y.M.C.A.: Young Men’s Christian Association – Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc.
[vi] Fim noir (phim đen): thể loại điện ảnh phổ biến trong thập niên 1940-1950, với những bộ phim dùng cốt truyện trinh thám hình sự để phản ánh những khía cạnh u ám của đời sống hiện đại.
[vii] Phim sản xuất năm 1953 với Marlon Brando thủ vai thủ lĩnh băng đảng gồm những tay chơi mô-tô sống ngoài vòng pháp luật.
[viii] Phim sản xuất năm 1955, về một thầy giáo (diễn viên Glenn Ford) ở một trường trung học thuộc khu nội đô nghèo khó cố gắng cảm hóa những học sinh quậy phá (Sidney Poitier thủ vai học sinh đầu lĩnh).
[ix] Bài hát này do Max C. Freedman và James E. Myers viết, có tựa gốc là “We’re Gonna Rock Around the Clock Tonight!”. Phần trình diễn nổi tiếng nhất và thành công nhất là của ban nhạc Bill Haley and The Comets. Bài này xếp hạng 158 trong danh sách “500 bài hát hay nhất mọi thời đại” của tạp chí Rolling Stone.
[x] Bill Haley (1925-1981): ca sĩ rock & roll người Mỹ, nổi tiếng nhất với bài “Rock Around the Clock”.
[xi] Frank Zappa (1940-1993): nhà soạn nhạc, ca sĩ, và đạo diễn người Mỹ.
[xii] Jackson Pollock (1912-1956): họa sĩ người Mỹ, có ảnh hưởng lớn đến trường phái biểu hiện trừu tượng. Bộ phim tiểu sử Pollock giành được giải Oscar Nữ Diễn viên Phụ xuất sắc nhất (Marcia Gay Harden), và được đề cử giải Oscar Nam Diễn viên Chính xuất sắc nhất (Ed Harris, cũng là đạo diễn).
[xiii] Partisan Review: Tạp chí chính trị và văn hóa ra hàng quý, tồn tại từ năm 1934 đến 2003; do William Phillips, Philip Rahv, và Sender Garlin sáng lập. Xuất thân từ Hội quán John Reed của giới văn nghệ sĩ và trí thức có tư tưởng Marxist ở Mỹ, tạp chí này muốn tạo một tiếng nói khác với New Masses, nguyệt san của Đảng Cộng sản Mỹ. Sau khi Stalin lên nắm quyền ở Liên Xô, tạp chí này thể hiện bản sắc mới với bài vở kịch liệt chỉ trích chủ nghĩa Stalin. Đại học Boston lưu trữ các số từ năm 1996 đến 2003 ở đây.
[xiv] Czesław Miłosz (1911-2004): nhà thơ, nhà văn người Ba Lan, đoạt giải Nobel Văn học năm 1980. Ông viết Tâm trí bị giam cầm (Zniewolony umysł) khi tị nạn chính trị ở Paris.
[xv] Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008): nhà văn người Nga, đoạt giải Nobel Văn học năm 1970. Ông góp phần tố cáo hệ thống lao tù Gulag của Liên Xô qua những tác phẩm nổi tiếng toàn cầu như Архипелаг ГУЛАГ(Quần đảo Gulag; xem bản dịch Quần đảo ngục tù của Ngọc Thứ Lang và Ngọc Tú ở đây), В круге первом (Trong vòng tròn đầu tiên; xem bản dịch Tầng đầu địa ngục của Hải Triều ở đây), và Оди́н день Ива́на Дени́совича (Một ngày của Ivan Denisovich).
[xvi] Milan Kundera (1929-): nhà văn người Séc, lưu vong ở Pháp từ năm 1975 và nhập quốc tịch Pháp năm 1981. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Nesnesitelná lehkost bytí viết năm 1982, nhưng in lần đầu năm 1984 với bản dịch tiếng Pháp L’Insoutenable légèreté de l’être; bản tiếng Séc in năm 1985. Tác phẩm này đã được Trịnh Y Thư dịch ra tiếng Việt với tựa đề Đời nhẹ khôn kham (dịch từ bản tiếng Anh The Unbearable Lightness of Being) in ở Mỹ năm 2002.
[xvii] Erich Fromm (1900-1980): nhà triết học, nhà xã hội học và nhà tâm lý xã hội người Đức.
[xviii] Hannah Arendt (1906-1975): nhà chính trị học người Mỹ gốc Đức.
[xix] Arthur Schlesinger con (1917-2007): nhà sử học và nhà phê bình xã hội người Mỹ, từng là trợ lý đặc biệt của Tổng thống Kennedy.
[xx] Theo giải thích của Schlesinger trong ấn bản năm 1998, khái niệm “vital center” (phái trung dung trọng yếu) dùng trong bối cảnh toàn cầu để chỉ những đấu tranh giữa chế độ dân chủ và chủ nghĩa toàn trị, chứ không phải những đấu tranh bên trong chế độ dân chủ giữa phe tự do và phe bảo thủ(cách dùng sai thường thấy của giới chính khách Mỹ để chỉ trong bối cảnh chính trị trong nước). Trong một bài viết trên Slate năm 1997 để phê bình cách dùng sai của Tổng thống Clinton, Schlesinger nói khi ông viết cuốn sách này năm 1949, ông dùng chữ “center” để chỉ nền dân chủ tự do, đối lập với những kẻ thù không đội trời chung của nó là chủ nghĩa phát xít ở phái hữu, và chủ nghĩa cộng sản ở phái tả.
[xxi] Tony Judt (1948-2010): nhà sử học người Anh. Theo BBC, cuốn Hậu chiến: Lịch sử Châu Âu từ năm 1945 (Postwar: A History of Europe Since 1945) được giới sử học khen là một trong những tác phẩm hay nhất về đề tài lịch sử Châu Âu cận đại.
[xxii] Ngày 11 tháng 3 năm 1941, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt ký đạo luật thực hiện chương trình viện trợ trang thiết bị quân sự cho Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, và các nước đồng minh khác. Chương trình này đánh dấu sự chấm dứt chính sách không can thiệp của Mỹ (Mỹ bắt đầu tham chiến vào tháng 12 năm 1941). Với tổng chi phí 50,1 tỉ đô-la, chương trình này được xem là một nhân tố quan trọng trong chiến thắng của phe Đồng minh.{jcomments on}

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s